[Review][Book] The Pianist – Wladyslaw Szpilman


Đọc quyển sách trong cái nóng 380 của Sài Gòn cộng thêm giữa lúc đất nước đang trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng khiến The Pianist vốn đã ám ảnh lại càng thêm ám ảnh hơn bao giờ hết.

The Pianist được viết năm 1945, là hồi kí của nghệ sĩ dương cầm Ba Lan Wladyslaw Szpilman, người sống sót qua thế chiến thứ hai. Cuốn hồi kí kể lại thời kì năm 1939, khi Đức mở cuộc xâm lược Ba Lan đến khi Warsaw được giải phóng năm 1945. Cuốn sách đơn giản chỉ kể lại những chuyện đã xảy ra trong quãng thời gian đó, không có dàn dựng sắp xếp đoạn này lên cao trào, đoạn này là đối đầu, căng thẳng, … nhưng dưới bàn tay nhào nặn của số phận, nó đem lại cho người đọc cảm giác hồi hộp, căng thẳng, tức giận, xót xa rồi vỡ òa trong hạnh phúc khi đọc những dòng cuối cùng, không thua kém bất kì tiểu thuyết hay bộ phim nào.

Tôi muốn đề cập đến âm nhạc trước nhất. Âm nhạc là một nhân tố lớn trong quyển hồi kí này bởi một lẽ, Wladyslaw là một nghệ sĩ dương cầm, sống và đam mê âm nhạc – ngôn ngữ chung của nhân loại. Âm nhạc giúp mọi người từ mọi miền trên thế giới có thể thấu hiểu nhau, giúp xoa dịu và thiện hóa tâm hồn con người. Thế nên, dù trải qua những ngày tháng địa ngục như vậy, bị tước đi quyền sống, quyền làm người nhưng giọng văn của The Pianist lại vô cùng bình tĩnh, trung tính, không hàm chứa một chút giận dữ, thù hằn nào. Chính điều đó làm nên sự đặc biệt của cuốn sách. Có thể cảm nhận được rằng chính âm nhạc cũng phần nào đó giúp ông sống sót đến tận ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh thảm khốc. Đầu tiên, nó giúp ông kiếm tiền trang trải cho gia đình trong khu tập trung Do Thái. Tiếp nữa, nhờ chơi piano ở các quán café, ông có dịp gặp gỡ những người ở tầng lớp trí thức mà sau này trong số những người đó giúp đỡ ông chỗ lánh nạn, tiếp tế lương thực và chăm sóc ông. Giai điệu piano réo rắt giúp thu phục cả những tay lính Đức tàn khốc, cứu ông khỏi tay Thần Chết không dưới một lần. Giai đoạn phải sống một mình hàng tháng trời ở khu nhà cháy không người, không sự sống, chỉ có sự đe dọa và cái chết rình rập, việc tưởng tượng những bản nhạc trong đầu, việc hướng đến tương lai khi chiến tranh kết thúc, ông lại được về bên những phím đàn piano đã giúp ông lờ đi thôi thúc muốn tự sát để tiếp tục sống và hy vọng. Quan trọng nhất, nó phần nào giúp ông tránh khỏi sự thoái hóa nhân cách đến cùng cực khi khổ đau đẩy con người đến bước đường cùng và giữ ông vẫn là chính mình cho đến khi chiến tranh kết thúc và cả sau khi mọi kí ức kia chỉ còn là dĩ vãng. Bom đạn lùi xa, mọi nỗi niềm của ông lại được đưa vào những bản nhạc, vào những phím dương cầm khi ông tiếp tục sáng tác và biểu diễn. Chính nhờ âm nhạc, một điều kì diệu có thực, đã sưởi ấm và bảo vệ tâm hồn lẫn tính mạng người nghệ sĩ dương cầm.

Tác giả vốn không phải nhà văn nên về mặt ngôn ngữ không có gì đặc biệt. Mà như thế những hình ảnh trong sách lại càng hiện lên một cách chân thực đến mức tàn nhẫn. Khó tin rằng những người dân Ba Lan lại bình tĩnh đến nhường đó khi nghe tin quân Đức đã hành quân sang Hà Lan, Đan Mạch, kể cả khi chúng đã đến gần Paris, mọi người vẫn bình tĩnh. Thị trưởng Warsaw còn khuyên người dân đừng nên manh động, không cần phải mua lương thực về dự trữ để làm gì. Ngay tận lúc tin Đức tấn công vào chính mảnh đất Ba Lan, sự sợ hãi cũng không rõ nét. Cuối cùng, cái ngày Wladyslaw bị bom đạn cắt ngang khi đang đàn bản Nocturne của Chopin ở đài radio, hỗn loạn mới xuất hiện. Chỉ trong có vài giờ đồng hồ, mọi thứ đã thay đổi 1800. Không chống cự nổi sự tinh nhuệ của quân Đức, người dân Warsaw bị giới cầm quyền bỏ mặc. Sau đó vài tháng bức tường bao quanh khu tập trung Do Thái được dựng, tách biệt họ với “giống loài thượng đẳng Aryan” gồm vài con phố ở Warsaw, vốn chỉ đủ cho cỡ 100 000 người sinh sống nhưng lại phải chứa đến tận 500 000 mạng người Do Thái. Giờ tôi đã hiểu vì sao các truyện thuộc thể loại dystopia, chi tiết bức tường lại được sử dụng rất nhiều. Tác giả viết rằng ông thà sống trong một nhà thù thực thụ còn hơn bị cầm tù ở nơi này. Cuộc sống hàng ngày bên trong bức tường đó vẫn diễn ra bình thường, café và những cửa hàng vẫn mở cửa bình thường, vẫn những gương mặt đó ta gặp hàng ngày, vẫn có những cuộc tiệc rượu của giới nhà giàu. Cái khác duy nhất là nơi đó chỉ có người Do Thái và mọi người đều bắt buộc phải đeo băng tay có hình ngôi sao sáu cánh, bằng chứng cho sự hạ đẳng của họ. À, thêm nữa, bọn Gestapo và những sĩ quan SS có thể ra tay giết bất kì ai, bất kì lúc nào với bất kì lí do gì hoặc chẳng với bất kì lí do gì. Chính cái “bình thường” đó ru ngủ con người trong sự bình yên giả tạo, dễ khiến người ta quên đi mình đang sống như một đám gia súc, bị quầy lại rồi nhốt chuồng, bị đóng dấu; rồi đến lúc bọn “chủ” cần, chúng chất đống tất cả lên những toa xe chật ních, mở cổng, tiến về những trại tập trung lao động đến chết cho chúng. Chính cái cuộc sống quây quanh bởi cái chết kề cổ, bởi sự lăng nhục về nhân phẩm, bởi cái sự bị đối xử không như một con người đó đã khiến người như Wladyslaw sợ hãi và căm ghét. Cầm tù trong tự do là hình phạt tàn nhẫn nhất.

Không thể không nhắc đến sự tàn bạo mất hết tính người của bọn Gestapo và đám lính SS, sau này thêm cả quân cảnh sát Do Thái, lính Ukraine và Luthania. Bên trong khu tập trung lại phân ra khu tập trung lớn – nơi tầng lớp trung lưu và thượng lưu sinh sống với khu tập trung nhỏ – nơi ở của tầng lớp thấp. Con phố nơi giao nhau giữa hai khu vực chứng kiến rõ nhất số phận của những người nô lệ. Bọn Gestapo đứng gác chọn những người trông vui mắt, bất kể tuổi tác ra đứng giữa đường, ở mọi thời tiết nhảy mua vui cho chúng sau những giờ đứng gác chán ngán. Họ nhảy trước mặt hàng nghìn con người đang chờ được đi qua hai khu, tất cả chỉ có thể đứng nhìn mà không ai có thể làm được gì. Trại tập trung vốn không thể chứa lượng người lớn đến mức đó nên có rất nhiều người phải sống vất vưởng trên đường. Môi trường như vậy là nơi lí tưởng để đủ loại bệnh dịch bộc phát, trong đó có thương hàn. Dân Do Thái thượng lưu và trung lưu có thể buôn lậu vaccine từ ngoài bức tường vào và thoát chết, những người còn lại đành phải chấp nhận số phận bởi bọn Đức chặn không cho vaccine tuồn vào trong khu tập trung. Chúng cũng đã giết tất cả những bác sĩ từ bình thường đến giỏi nhất nước. Những đợt thanh trừng lúc nửa đêm về sáng khiến người ta không thể tin mà cũng không muốn tin chúng đã từng xảy ra: một ông già ngồi xe lăn bị ném thẳng xuống đường, những người bị dồn ra trước xe chơi trò may rủi với súng máy, trẻ em bị đập đầu khi bị phát hiện ăn trộm vì quá đói, trò xổ số “trái chết phải sống” cùng hàng ngàn hình thức giết người theo lệnh khác lũ Gestapo và SS có thể nghĩ ra. Bất kì ai sống trong bức tường, bất kể người lớn hay trẻ em chỉ có số phận duy nhất là cái chết, không sớm thì muộn.

Chiến tranh không tạo ra những anh hùng, nó tước đi quyền làm người của bất kì ai dính líu đến nó. Để tránh cái chết chực chờ, những người dân không từ một cách nào, dẫu có là quay lưng lại với đồng loại, với dân tộc. Nhiều người tham gia đội cảnh sát Do Thái để đẩy lùi cuộc hẹn với Thần Chết hết mức có thể. Khi đó, họ hung dữ, khát máu không khác gì những tên Gestapo, những tay SS kia. Họ sẵn sàng lùa những người như mình ra những sân trống để bắn, lên những toa xe lửa tử thần với đích đến là những trại tập trung tàn khốc, truy tìm mọi ngóc ngách xem còn sót bất kì người Do Thái nào trong những khu nhà hay không. Những con người thức dậy trên đường phố khi quá giờ giới nghiêm – những đứa trẻ và những người điên, họ vật vờ đi trong đêm trường, lũ trẻ rên xiết mong nhận được chút thức ăn. Đáp lại họ chỉ là sự im lặng đến ghê người của màn đêm. Thức ăn trở nên khan hiếm đến mức chuyện chia sẻ là không tưởng. Khi bị cơn đói hành hạ đến mức không thể chịu nổi nữa, những người vốn lương thiện ngày trước nay hóa trộm cắp, vứt bỏ cả danh dự để liếm chút thức ăn đã rơi xuống lòng đường. Một người mẹ đã giết đứa con nhỏ của mình vì nó đã khóc khi cả gia đình đang trốn trong tủ gỗ. “Chiến tranh đã biến trái tim con người thành gỗ đá.” – tác giả viết.

Dẫu vậy, trong những thời khắc khốn khó như vậy, khi con người có thể trở nên khốn nạn và thấp hèn nhất cũng là lúc họ có thể trở nên cao thượng và đẹp đẽ nhất. Trong một quyển sách chứa đầy bóng tối cũng tồn tại những điểm sáng mạnh mẽ. Đó là khoảnh khắc giữa sân ga đông đúc những người Do Thái chuẩn bị bị đưa về phòng hơi ngạt của các trại tập trung, người cha của Wladyslaw xẻ viên kẹo bằng con dao nhíp nhỏ thành sáu phần cho gia đình của mình, để họ ăn bữa cuối bên nhau. Một hình ảnh ấm áp nhưng đau đớn đến nát lòng. Đó là hình ảnh nhà văn Janusz Korczak bế đứa bé trên tay trên chiếc xe buýt đưa ông cùng những đứa trẻ khác trong trại mồ côi của ông đến ga xe lửa. Ông có thể được tự do, tự cứu lấy bản thân mình nhưng ông lại chọn ở lại với lũ trẻ. Ông bảo những đứa trẻ chúng sẽ được ra khỏi bức tường, bảo chúng ăn mặc thật đẹp cho chuyến đi này; và trên chuyến xe đó, ông bảo chúng mọi chuyện sẽ ổn thôi và tươi cười với chúng. Đó là hình ảnh những người bạn của Wladyslaw mạo hiểm tính mạng cả gia đình mình (ở Warsaw, phát hiện chứa chấp người Do Thái là cả gia đình sẽ bị xử bắn) để lo cho ông chỗ trú ẩn, đồ ăn, thức uống. Đó là hình ảnh Wladyslaw mạo hiểm tính mạng của chính mình để mua chút đồ ăn ngoài khu Aryan đem vào khu tập trung. Đó là hình ảnh thanh niên Warsaw chuẩn bị cho cuộc cách mạng, đem vũ khí giấu dưới những túi khoai tây qua vòng kiểm tra của lính Đức. Đó là hình ảnh của thành phố “mỗi năm đều dừng lại trong một phút” Warsaw khi họ nổi dậy. Đó là hình ảnh sĩ quan người ĐỨC, Wilm Hosenfeld cứu giúp chính Wladyslaw.

Điều trên có tính bước ngoặt thực sự trong hành trình của Wladyslaw. Lang thang trong khu chung cư cháy rụi hàng tháng trời, thiếu nước, thiếu thức ăn và mùa đông đang tới. Trong một lần loay hoay tìm thức ăn, bỗng nghe tiếng hỏi:

Anh đang làm cái quái gì ở đây thế?

Đọc thêm chút nữa biết đó là người Đức, sĩ quan người Đức, tôi giật cả mình “WTF?! Không sống sao ông ấy viết cuốn này?” Đọc sang chương sau tôi mới cảm thấy ông ấy không hay chưa hẳn là người xấu. Tôi chưa xem phim nhưng nhiều bạn bảo cảnh này gợi cho các bạn ấy về truyện Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân nhưng nếu có đọc sách thì sẽ thấy nó … không giống chút nào hết.

Tôi không có ý định làm gì anh cả.

Đại ý tiếp lời sau khi Wladyslaw bảo mình sẽ không rời khỏi khu nhà này. Rồi ông hỏi tiếp Wladyslaw làm nghề gì.

Tôi là nghệ sĩ dương cầm.

Và Wladyslaw đã đàn bản Nocturne của Chopin khi được yêu cầu, trước mặt một sĩ quan Đức . Phải hiểu ông phải yêu nước và ga dạ đến chừng nào mới dám đàn bản nhạc đó. Đến đây, khi có đọc sách, câu trả lời của tác giả có là công nhân đi chăng nữa thì đại úy Wilm Hosenfeld – tên người sĩ quan kia, vẫn sẽ đem bánh mì, nước uống đến giúp đỡ trong những tháng cuối năm 1944 đó. Thêm nữa, sau nhiều năm trời chưa hề động đến phím đàn, chiếc đàn piano ở chái nhà vốn bị bỏ hoang khá lâu cũng không hề được căng chỉnh, khi chơi hẳn nhiên sẽ chẳng hay được bao nhiêu nên chuyện trọng tài năng ở đây hơi vô lí. Có lẽ khi Wilm bảo Wladyslaw đàn thử chỉ là ý tưởng nhất thời mà thôi.

Cần phải biết rằng, trước khi giúp Wladyslaw, Wilm đã giúp đỡ và cứu rất nhiều người khác, từ Ba Lan đến Do Thái, từ người thường đến người chống phát xít. Thêm nữa, ông không phải thuộc vào hàng Gestapo hay SS vốn gồm những tay tù hay dân giang hồ là chính mà ông vốn là một giáo viên tận tình với học sinh, từng tham chiến trong thế chiến thứ nhất, thời điểm trong truyện cũng chỉ là nhân viên văn phòng phụ trách cơ sở vật chất thể thao vì ông đã 49 tuổi rồi, không đủ khỏe để ra trận nữa. Đại úy là người theo đạo thiên chúa, ngờ ngợ nhận ra sự tào lao của chế độ năm 1935, đến khi chứng kiến cách lính Đức đối xử với người dân Ba Lan và người Do Thái, niềm tin của ông vào chế độ biến mất hẳn. Ông học tiếng Ba Lan, đi nhà thờ Ba Lan với quân phục phát xít. Ông dùng quyền lực của mình, thậm chí làm trái quy định để giúp đỡ những người khác hết mức có thể. Trong đó, cảnh ấn tượng nhất là ông đang đi bộ trên phố và dừng thẳng trước xe tải chở tù nhân Do Thái để cứu lấy một người trong số họ. Thực sự nếu ông bảo cứu cả xe thì đã bị kết tội phản quốc rồi bị tử hình hoặc bị thằng lính SS đang lái xe bắn chết tại chỗ và sẽ chẳng có quyển The Pianist để đọc hay chuyển thể thành phim.

Trở lại câu chuyện. Trong vài chương trước, Wladyslaw cũng chạm mặt phải một tên lính Đức rồi hắn quay lại với đồng bọn vài lần nữa để truy tìm ông thì có cớ gì để tin một tay “sĩ quan Đức” chứ (phần thông tin ở đoạn trên trong phần cuối sách). Chính vì vậy, ông đã hỏi xem Wilm có phải người Đức không sau khi Wilm bảo sẽ mang thức ăn đến cho ông. Câu trả lời gần như hét vào mặt ông là thế này:

Phải! Và xấu hổ vì điều đó, sau tất cả những chuyện này.

Đến đây yên tâm phần một. Sau đó đại úy đem đồ ăn đến thật, còn thông báo tình hình bên ngoài và động viên Wladyslaw thì tôi mới tin điều kì diệu là có thực. Tháng 12, đoàn quân của Wilm sẽ chuyển đi và ông phải đi cùng họ, ông đã đem đến nhiều lương thực hơn và tặng luôn Wladyslaw cái áo khoác, không quên lời dặn nghệ sĩ dương cầm này phải cố gắng sống tiếp. Lúc họ chia tay, tác giả cho Wilm biết họ của mình (lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng, họ không hề biết tên nhau từ lúc gặp đến giờ và lần cuối gặp nhau Wilm cũng chỉ biết mỗi cái họ của Wladyslaw không hơn), nhắc ông nhớ lấy để sau này khi đã làm việc trở lại, ông còn biết đường bật đài radio để nghe. Rồi họ bặt tin nhau từ đó. Hai con người, hai dân tộc, hai chiến tuyến, đến cái tên cũng chẳng biết lại có thể đối xử với nhau như thế. Cảm động nhất là Wladyslaw không muốn biết tên Wilm vì lỡ có bị bắt, bị tra khảo cũng không vô tình khai ra gây liên lụy đến đại úy. Và thưa các bạn, đây là trường đoạn “y như phim” nhất trong sách lẫn trong đời thực.

Sau này, có muốn Wilm Hosenfeld cũng chẳng thể nghe tiếng dương cầm của Wladyslaw Szpilman nữa vì ông bị quân Xô Viết bắt năm 1945, bị tra khảo dã man rồi chết “với một linh hồn tan vỡ” 7 năm sau đó tại nhà tù Xô Viết vì họ không tin một tên phát xít Đức lại có thể giúp chỉ một người Ba Lan chứ đừng nói đến Do Thái và giúp nhiều người lại càng đậm chất bịa đặt. Trong vài ấn bản đầu tiên của The Pianist, thân thế ông cũng bị sửa lại (vì lí do chính trị) là người Áo chứ không phải người Đức vì như thế “dễ chấp nhận hơn”.

Một quyển sách trần trụi và chân thực đến tàn nhẫn, không từ ngữ trau chuốt, bóng bẩy, không ẩn dụ mà chỉ có sự thật. Nó cho ta thấy lại một phần lịch sử tưởng chừng chỉ có trong tiểu thuyết, cho hậu thế thấy được sự tàn ác của chiến tranh trong lúc nó xảy ra lẫn khi nó kết thúc, cho ta thấy sự tàn nhẫn đến cùng cực của nhân loại cũng như sự cao thượng đến khó tin của nhân loại.

 

Advertisements

Each of your comment is love >_^!

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s